Tượng Bố Đại Hòa Thượng (Phật Di Lặc) mập mạp, bụng lớn, tay cầm gậy và túi vải, hình ảnh đại diện cho sự ứng hóa của Bồ Tát Từ Thị trong dân gian.

Sự Tích Đức Phật Di Lặc (Maitreya): Hành Trạng Ứng Hóa Của Bồ Tát Từ Thị Trong Dân Gian

Đức Di Lặc (Maitreya) là vị Phật thứ năm trong Hiền Kiếp, nối ngôi Phật Thích Ca Mâu Ni để giáo hóa chúng sinh. Tuy nhiên, thời điểm xuất thế của Ngài chưa đến, Ngài vẫn đang ngự tại cung Trời Đâu Suất. Trong lúc chờ đợi thời cơ chín muồi, Ngài thường xuyên hóa thân vào mười phương thế giới, dùng quyền năng phương tiện và pháp âm vi diệu để độ hóa nhân gian.

Trong lịch sử Phật giáo, nổi bật nhất là hai lần ứng tích của Ngài: lần đầu là Phó Đại Sĩ tại Song Lâm (đời Lục Triều) và lần thứ hai là Bố Đại Hòa Thượng tại Nhạc Lâm (đời Ngũ Quý).

Hóa Thân Bố Đại Hòa Thượng (Bhante Hotei) – Vị Phật Cười

Hành trạng và ngoại hình khác biệt

Vào thời kỳ nước Lương thuộc đời Ngũ Quý, Đức Di Lặc ứng tích tại Châu Minh, huyện Phụng hóa. Hình dáng của Ngài khác hẳn người thường: trán nhăn, bụng lớn, thân hình mập mạp và luôn mang theo một chiếc túi vải. Do đó, người đời không biết tên thật của Ngài, mà chỉ gọi Ngài là Bố Đại Hòa Thượng (Hòa Thượng Túi Vải).

Ngài có tính cách khôi hài, không cố định chỗ ăn chỗ ngủ, thường xuyên lui tới Chùa Nhạc Lâm. Bố Đại Hòa Thượng luôn mang theo gậy Tích trượng và chiếc túi vải của mình. Đặc biệt, Ngài thường được vây quanh bởi 18 đứa trẻ nhỏ (tượng trưng cho lục căn, lục trần, và lục thức), chúng thường đùa cợt làm Ngài cười không ngớt.

Khi đi vào thôn quê hay đồng ruộng, bất cứ ai cho thức ăn gì, Ngài đều nhận, ăn xong phần còn dư thì bỏ vào túi vải. Lúc đến chợ quán, Ngài ngồi xuống, mở túi lấy đồ ăn dư ra, hỏi mọi người xung quanh: “Các ngươi xem coi đó là cái gì?” rồi lại cất đi.

Những cuộc đối đáp thiền cơ

Bố Đại Hòa Thượng nổi tiếng với những cuộc đối đáp ẩn chứa thiền cơ sâu sắc:

Một hôm, có một Tăng nhân hỏi Ngài: “Thế nào gọi là: cái túi vải?” Ngài liền để túi xuống, khoanh tay đứng. Tăng nhân hỏi tiếp: “Công việc của cái túi vải ra làm sao?” Ngài liền mang túi lên và bỏ đi, không đáp lời nào.

Lại có lần, Bảo Phước Hòa Thượng hỏi về ý nghĩa Tổ Sư từ Tây phương sang đây. Ngài liền để túi vải xuống và đứng tự nhiên. Khi Bảo Phước Hòa Thượng hỏi thêm: “Chỉ như vậy, hay là còn có cái gì nữa hay không?” Ngài lập tức mang túi vải lên và bỏ đi.

Điều này cho thấy, chiếc túi vải tượng trưng cho kho tàng chân lý, chứa đựng vạn pháp. Đặt túi xuống là thể hiện sự xả bỏ, buông xuống vạn duyên. Mang túi đi là thể hiện sự hành động, sử dụng chân lý để độ hóa chúng sinh trong mọi hoàn cảnh.

Hóa độ và lời khuyên về tâm

Ông Trần cư sĩ ở xứ Mân Trung thấy Ngài làm nhiều việc kỳ thần nên kính trọng. Khi Trần cư sĩ hỏi Ngài về họ tên, Ngài đáp mình họ Lý, sinh ngày mùng tám tháng hai, và dùng chiếc túi vải để độ đời.

Khi được hỏi về cách sống giữa thị phi và tai tiếng, Ngài đã đáp lại bằng bài kệ:

Ghét thương phải quấy biết bao là,
Xét nét lo lường giữ lấy ta;
Tâm để rỗng thông thường nhẫn nhục,
Bửa hằng thong thả phải tiêu ma;
Nếu người tri kỷ nên y phận,
Dẫu kẻ oan gia cũng cộng hòa;
Miễn tấm lòng này không quái ngại,
Tự nhiên chứng đặng “Lục ba la”

Tượng Bố Đại Hòa Thượng (Phật Di Lặc) mập mạp, bụng lớn, tay cầm gậy và túi vải, hình ảnh đại diện cho sự ứng hóa của Bồ Tát Từ Thị trong dân gian.Tượng Bố Đại Hòa Thượng (Phật Di Lặc) mập mạp, bụng lớn, tay cầm gậy và túi vải, hình ảnh đại diện cho sự ứng hóa của Bồ Tát Từ Thị trong dân gian.

Khi Trần cư sĩ thưa rằng muốn được thấy tánh Phật, Ngài đáp:

Phật tức tâm, tâm ấy là Phật,
Mười phương thế giới là linh vật;
Tung hoành diệu dụng biết bao nhiêu,
Cả thảy chẳng bằng tâm chơn thật.

Di Lặc Bồ Tát và Sự Kiện Nhập Diệt

Biểu hiện thần thông và sự linh ứng

Bố Đại Hòa Thượng có nhiều thần thông khó lường. Khi trời mưa, Ngài ngủ dậy mang guốc cao gót, nằm ngửa trên cầu, co chân dựng bắp vế lên thì ngày đó trời nắng. Khi trời nắng, Ngài mang đôi dép cỏ ra đường thì ngày đó trời lại mưa.

Đặc biệt, Ngài từng khuyên ông Tưởng Tôn Bá (sau này gọi là Ma Ha cư sĩ) trì niệm câu chú “Ma ha bát nhã ba la mật đa”. Một lần nọ, khi tắm chung dưới khe Trường Đinh, Ma Ha cư sĩ thấy trên lưng Ngài có bốn con mắt rực rỡ chói lòa, liền bái lạy và nhận ra Ngài là Phật tái thế. Ngài dặn dò ông chớ tiết lộ.

Trước khi nhập diệt, Ngài đã đưa cho Ma Ha cư sĩ một chiếc túi nhỏ, một cái hộp và một sợi dây, tiên tri rằng con cháu ông sau này sẽ được vinh hoa phú quý như những vật phẩm ấy. Quả nhiên, con cháu ông Tưởng Tôn Bá về sau hưởng lộc nước đời đời.

Nhập diệt và lưu lại di tích

Vào ngày mùng ba tháng ba, năm thứ ba niên hiệu Trịnh Minh, Bố Đại Hòa Thượng không bệnh tật gì, ngồi kiết già trên bàn thạch gần mái chùa Nhạc Lâm mà nhập diệt.

Trước đó, Trấn Đình Trưởng là người thường giật túi vải của Ngài để đốt (đã đốt cháy rụi đến ba lần), nhưng hôm sau Ngài vẫn mang túi ấy như cũ. Khi Ngài nhập diệt, Trấn Đình Trưởng mua quan tài tẩn liệm. Tuy nhiên, quan tài không thể nhấc lên được dù rất đông người khiêng. Chỉ đến khi ông Đồng (người ngày thường tôn kính Ngài) mua quan tài khác để liệm lại, quan tài mới nhẹ nhàng như bông.

Sau khi chôn cất, dân chúng lập tháp cho Ngài tại núi Phong Sơn, đặt tên là Định Ứng Tháp. Các hang đá trên núi Phong Sơn vẫn còn lưu truyền các di tích của Ngài như chỗ để tích trượng, bình bát. Nơi đây, các hang đá hình bát luôn có nước đầy, không bao giờ khô kiệt, dù gặp hạn hán.

Hóa Thân Phó Đại Sĩ (Fu Dashi) – Bậc Trí Tuệ Vô Ngại

Đức Di Lặc còn một lần ứng tích khác vào đời Lục Triều tại Chùa Song Lâm, với tên gọi Phó Đại Sĩ. Sự tích này gắn liền với cuộc đời của Vua Lương Võ Đế.

Đối đáp về Đạo và Tâm

Khi Phó Đại Sĩ ra mắt Lương Võ Đế, Vua hỏi: “Xin Đại sĩ cắt nghĩa cho quả nhơn nghe làm sao kêu là: Đạo?”

Phó Đại Sĩ liền bạch rằng:

“Tâm thiệt là Đạo. Khi bệ hạ chưa khởi niệm, bổn trí vẫn tự nhiên, diệu tịnh quang huy. Ánh sáng đó đầy lấp tất cả cõi Thái hư, muôn đời không sanh, vĩnh kiếp không diệt. Ngoài cái tâm không có đạo gì riêng khác, và ngoài đạo cũng không có tâm nào phân biệt nữa, vì thế cho nên mới gọi: ‘tâm là đạo’.”

Khi Vua hỏi về việc Ngài có tôn Thầy hay không, Ngài đáp rằng không có ai là Thầy hay tôn ai làm Thầy cả. Lương Võ Đế biết Ngài là Bồ Tát lâm phàm nên càng tôn trọng đặc biệt.

Quan điểm về Sự Kính

Một hôm, Phó Đại Sĩ ngồi cùng ông Lưu Trung Thừa. Khi Thánh giá đi ngang qua, Lưu Trung Thừa vội đứng dậy làm lễ, còn Ngài vẫn ngồi yên lặng. Lưu Trung Thừa thắc mắc Ngài ngã mạn.

Phó Đại Sĩ giải thích:

“Phàm việc kính mà biểu lộ ra hình tướng, thì không có tánh kính, còn bề ngoài chẳng cử động sự kính về lễ nghe tham bái, thì thiệt trong tâm có ẩn điều kính vô giá. Bần đạo thấy Thánh giá mà động thân, thì pháp địa tự nhiên cũng rúng động. Hễ pháp địa rúng động, thì tất cả các pháp cũng chẳng an nhẫn. Nếu các pháp chẳng an nhẫn, tức là không có kính, nên bần đạo vẫn ngồi tự nhiên là vậy đó.”

Điều này thể hiện sự kính trọng chân thật nằm ở nội tâm thanh tịnh và không chấp vào hình tướng bên ngoài.

Công hạnh Lợi Sinh và Hộ Pháp

Phó Đại Sĩ đã làm nhiều công việc vĩ đại để lợi ích chúng sinh. Khi thấy Kinh tạng chứa đầy, Ngài khuyên các đạo chúng chép lại từng cuốn để công đức chuyển kinh giúp kẻ sơ địa phàm phu đạt tới chánh chơn Phật. Nhờ đó, Kinh tạng ở Chùa Song Lâm được bảo toàn nguyên vẹn, lưu truyền đời sau.

Công đức lớn nhất của Phó Đại Sĩ tại thế gian là việc tạo lập “Phước Điền”. Một lần nọ, Ngài thấy vùng ven biển chỉ làm được ruộng muối, thường bị nước biển tràn vào khi mùa thu đến. Dù bị dân chúng cười chê, Ngài vẫn lấy bao đựng cát chất xây thành lũy bao quanh bãi cát. Lạ thay, bờ đê này dần cứng như đá, ngăn được nước thủy triều.

Vùng đất được Ngài tạo lập ước chừng hơn hai ngàn mẫu, trở thành ruộng lúa tốt, được gọi là “Phước Điền”. Dân cư trong xứ hằng năm trích một phần ba lúa gạo để cúng dường tăng đồ, phóng sinh và làm việc phước thiện.

Cảnh quan vùng đất Phước Điền do Phó Đại Sĩ (Di Lặc) tạo lập, thể hiện công đức rộng lớn và lòng phổ tế của Ngài đối với chúng sinh.Cảnh quan vùng đất Phước Điền do Phó Đại Sĩ (Di Lặc) tạo lập, thể hiện công đức rộng lớn và lòng phổ tế của Ngài đối với chúng sinh.

Hóa giải Nghiệp Sát và Vọng Tâm

Trong quá trình hành đạo, Phó Đại Sĩ cũng chuyên tâm hóa độ chúng sinh thoát khỏi nghiệp sát sinh. Khi gặp người nông phu đang định làm thịt trâu, Ngài đã can ngăn: “Phàm ở đời, có nhân thì có quả, không có sai chạy mảy nào. Hễ giết loài vật, thì có ngày chúng nó cũng giết lại. Bần đạo nguyện sao nhà ngươi hồi tâm tự lượng, đem tấm lòng nhân từ mà dung thứ những loài động vật, vì nó cũng đủ cả Phật tánh và cũng biết ham sống sợ chết như ta vậy.” Người nông phu nghe xong liền tỏ ngộ, thề trọn đời không tái phạm.

Khi một Sa di hỏi Ngài cách hàng phục vọng tâm, Ngài đáp: “Vọng tâm thiệt không có căn bản, hễ buông nó ra thì không thấy dấu tích gì là vọng. Nếu nhứt chơn của ta đặng yên tịnh rồi, thì toàn thể như như phóng ra khắp cả pháp giới và bốn thể vẫn tự nhiên mà rõ rệt. Chừng đó, dẫu cho bụi trần cấu cũng không có thế nào mà che lấp cho đặng, thì có vật chi đâu mà ngươi gọi rằng điều phục.”

Những lời pháp ngữ của Phó Đại Sĩ đã khai mở lý mầu nhiệm của thiền gia, giúp nhiều người nhận ra chân tính.

Ý Nghĩa Sâu Xa Của Sự Tích Di Lặc Bồ Tát

Đức Di Lặc Bồ Tát, hay Bồ Tát Từ Thị, ứng hiện tại thế gian qua các kiếp, không ngoài mục đích dùng lòng từ bi vô hạn để tế độ chúng sinh đang chìm đắm trong bể khổ. Dù chưa đến thời kỳ xuất thế để làm vị Phật thứ năm trong Long Hoa Hội, Ngài vẫn tùy cơ duyên mà ứng tích, dùng đủ mọi phương tiện quyền xảo để đưa người đời ra khỏi nhà lửa.

Sự tích Bố Đại Hòa Thượng với chiếc túi vải rộng lớn, tượng trưng cho khả năng bao dung, thu thập và hóa giải mọi phiền não. Nụ cười hoan hỷ của Ngài là lời nhắc nhở rằng niềm vui chân thật nằm ở sự giải thoát, buông xả, không chấp trước.

Sự tích Phó Đại Sĩ lại nhấn mạnh vai trò hộ pháp, chỉ rõ Tâm chính là Đạo, và mọi công hạnh đều phải xuất phát từ nội tâm thanh tịnh, vô ngã. Qua hai lần ứng hóa này, Đức Di Lặc đã để lại những công đức vô lượng vô biên, những bài học thâm sâu về thiền định và lòng nhân ái phổ tế khắp thế gian.

Dù Tam Bảo còn lưu trụ khắp cõi nhân gian, nhưng bởi chúng sinh trí cạn, chướng sâu nên khó thể thấy được. Chính vì lẽ đó, Đức Di Lặc Bồ Tát đã không ngần ngại ứng tích nhiều thời kỳ để hóa độ, khiến cho sáu chữ “Nam Mô Di Lặc Tôn Phật” trở thành câu niệm trì quen thuộc trong lòng người con Phật, hướng đến một tương lai tươi sáng dưới ánh sáng Chánh pháp.

Ngày cập nhật 27/11/2025 by Anh Hoàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *